Hiển thị các bài đăng có nhãn tay an. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tay an. Hiển thị tất cả bài đăng

28 tháng 7, 2012

Về hậu duệ của Quang Trung và Lê Ngọc Hân

Có một thuyết khác về hậu duệ của Quang Trung và Lê Ngọc Hân theo quyển “Thân thế Phật Thầy Tây An & Ngọc Hân Công Chúa qua Kim Cổ Kỳ Quan”. Tác giả của quyển này là Cư sĩ Sripolieu, không rõ lai lịch và quốc tịch. Sách viết xong ngày "Mậu Tý tháng Canh Tý mùa Đông năm Bính Tý" (8-11-1996), không ghi cơ sở xuất bản và thời điểm phát hành.

 
Nguyễn Huệ và Lê Ngọc Hân (tranh Vivi)

Trước hết, tác giả phân trần trong LỜI GIỚI THIỆU: “Sau hơn 20 năm nghiên cứu quyển kinh KIM-CỔ KỲ-QUAN được viết bằng chữ Nôm của Ông NGUYỄN VĂN THỚI (1866-1926), một Đệ tử kiệt xuất của Hệ phái TINH-MINH-HIẾU-NGHĨA của Ông TRẦN VĂN NHU và là một Chí sĩ yêu nước, người viết đã khám phá ra sự bí mật của thân thế PHẬT THẦY TÂY AN [1], được tiết lộ một cách cực kỳ khéo léo trong quyển được gọi là THÁNH-KINH nầy, để qua được tai mắt của Triều đình nhà Nguyễn.” (trang 2).

Sau đó, tác giả cho biết: “Nội dung của KIM CỔ KỲ QUAN theo thiển kiến của người viết, ngoài giáo lý tứ trọng ân để tu nhân học Phật, còn mấy phần chính yếu sau được Ông Ba trình bày một cách bí mật:

1. Thân thế Phật Thầy và dòng dõi của Ngài.
2. Gia đình Đức Quản Cơ TRẦN VĂN THÀNH với phong trào chống Pháp của Nghĩa Quân Gia Nghị ở chiến khu Bảy Thưa.
3. Cuộc đại biến thiên của trái đất.
4. Tương lai rực rỡ của dân tộc Việt Nam.

Trong tập sách nhỏ nầy, người viết chỉ bàn đến phần một, tức thân thế Phật Thầy và dòng dõi của Ngài, vì nó liên quan mật thiết với Triều Đại TÂY SƠN, trong đó chính yếu là Vua QUANG TRUNG và Bà NGỌC HÂN CÔNG CHÚA. Mục đích của người viết có hai điều khi soạn tập sách nầy:

1. Muốn góp phần với các nhà khoa học lịch sử tìm di tích của Vua QUANG TRUNG và Bà NGỌC HÂN CÔNG CHÚA, nhất là mộ phần của hai người.
2. Muốn giải thích rõ ràng cho các môn nhân BỬU SƠN KỲ HƯƠNG về thân thế của Phật Thầy mà bao thế hệ qua đã hiểu lầm, mặc dầu tất cả đều tôn kính Ngài là một vị Phật Việt Nam.” (trang 13-14)

Thật ra, tác giả nghiên cứu Kim Cổ Kỳ Quan qua bản dịch bằng chữ Quốc ngữ như lời Ông tiết lộ: ”Chúng tôi nghiên cứu và giải thích theo bản in Bộ KIM CỔ KỲ QUAN, xuất bản năm 1957 - giấy phép số 423-TTT/PKD Sài gòn, do Ông TRẦN QUANG TRÂM ở LÁNG LINH (Dinh Ông Thẻ) sao chép lại và dịch ra quốc ngữ năm 1947 từ bản chính với 4 chữ CỦA XƯA ĐỂ LẠI”.(trang 26)

Hoàng đế Quang Trung và Ngọc Hân công chúa


Năm Bính Ngọ, 1786, nhà vua Hiển Tông gả con gái thứ 21 là Lê Ngọc Hân cho chúa Tây Sơn Nguyễn Huệ, cũng là lúc cuộc tiến công thần tốc diệt họ Trịnh của Tây Sơn Nguyễn Huệ.
Các danh tướng vi cánh họ Trịnh như Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ, Trịnh Tư Quyền từng đánh lại Tây Sơn, sau nhờ đức thuyết phục của Nguyễn Huệ, họ đều chống họ Trịnh, theo Tây Sơn như: Đinh Tích Nhưỡng, vào năm 1802, vâng lệnh Ngô Văn Sở, cùng với Ngô Văn Sở, hy sinh con cháu của mình, cứu con Quang Trung, rồi đưa công chúa Ngọc Hân cùng các cháu xuống thuyền vượt biển vào Nam Bộ, đến Bắc An Hòa, đến vùng Cái Tàu Thượng, rạch Cái Nai để tránh nhà Nguyễn...

                         Vua Quang Trung và Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Ảnh ST
 
Một thời gian rất lâu, lịch sử bị nhà Nguyễn che khuất, nhiều lần công chúa Ngọc Hân bị tin đồn cưỡng bức hoặc bị hành quyết. Nhiều lần bà về quê mẹ ở Làng Nành, công chúa giả chết và làm mộ giả ở quê mẹ để vào Nam với 3 đứa con (2 của mình còn 1 là của một quý phi khác (đã chết), người con đó là đứa con trai lớn của Quang Trung tên là Nguyễn Quang Thùy, theo công chúa Ngọc Hân cùng hai em vào Nam để tìm đất sống, nối dòng họ Nguyễn của cha.
Các nhà báo, các nhà làm phim, làm lịch sử không thể tóm kết sự kiện về Quang Trung và Công chúa Ngọc Hân đầy đủ được. Mỗi tác giả viết khác nhau và thiếu tựu trung dè dặt. Do công phu lâu dài, ta theo dõi sự kiện lịch sử Quang Trung, Ngọc Hân và sưu tầm thành tập công phu này, để các tác giả có điều kiện đi sâu vào sử liệu và khám phá chiều sâu của lịch sử.

Đức Phật Thầy Tây An và giả thiết về thân thế

Ngài sanh năm Đinh Mão (1807) tại làng Tòng Sơn thuộc tỉnh Sađéc nhưng mãi đến năm Kỷ Dậu (1849) Ngài hốt nhiên tỏ ngộ, rồi bắt đầu từ đó Ngài ra đời hoằng pháp độ sanh.

Mặc dầu thời gian hoằng hóa của Ngài rất ngắn, chỉ có bảy năm, từ năm Kỷ Dậu 1849 đế năm 1856, Ngài đã gây nên một phong trào đạo hạnh chưa từng thấy, vì Ngài đã lập nên giáo hệ Bửu Sơn Kỳ Hương, với pháp môn học Phật tu nhân.

Trong thời gian bảy năm mà gây được một giáo hệ như thế, thật là một việc hy hửu trên nền hoằng hóa lợi sanh, giáo pháp của Ngài truyền dạy là pháp môn Học Phật Tu Nhân, rất khế hợp với căn cơ và phương tiện tu học của đại đa số sanh chúng thời hiện tại.

Ngày 12 tháng tám năm Bính Thìn (1856) đức Phật Thầy Tây An viên tịch tại núi Sam (Châu đốc) lúc 12 giờ trưa.

Từ ngày các vị Tổ ở Trung Hoa bặt truyền y bát, Phật pháp đã bước dần vào con đường suy đồi. Với sự giáng lâm của đức Phật Thầy giáo pháp vô vi của đức Phật Thích Ca được xướng minh và hưng truyền trong dân chúng. Ngài đã làm tỏ rạng chánh pháp và xứng danh là vị kế thống của đức Lục Tổ Huệ Năng, như Ngài đã biểu lộ trong câu:
Khát thời uống nước Tào Khê,
Đói ăn Ma phạn tố về canh tân.

Ngoài pháp môn hành đạo đúng theo giáo pháp vô vi của Phật, chính hạnh đức của Ngài cũng đã phản ảnh được lòng từ của đức Phật. ngay như ngôi mộ của Ngài, trước khi viên tịch Ngài cũng đã dạy, sau nầy san bằng chớ không cho đắp nấm, để đất trống cho người trồng tỉa, cũng đủ biểu thị ý nghĩa vô vi.

Cũng như đức Phật Thích Ca, trong bảy năm hoằng hóa, Ngài chỉ thuyết ra chớ không có viết, các môn nhơn đệ tử của Ngài sưu chép lại thành giảng thi, phương cách giống như là các đại đệ tử của đức Phật ngày xưa đã kết tập những lời Phật thuyết mà thành các bộ kinh.

Ngài đã qui hội trong giáo phái của Ngài hằng ngàn đệ tử, trong đó có 12 vị đạo hạnh cao siêu nhất, được gọi là Thập Nhị Hiền Thủ đã liễu ngộ và đắc các phép thần thông.

Các đại đệ tử đều được Ngài mật truyền bí pháp, để mỗi người tùy phương tiện, lập chùa hoằng hóa, trị bịnh độ sanh, nhờ đó mà chẳng bao lâu, giáo hệ Bửu Sơn Kỳ Hương mở rộng ra khắp miền Nam nước Việt…”

Mười hai đại đệ tử là:

1. Ông Cố Quản có tên là Trần văn Thành.

2. Ông Tăng Chủ được đức Phật Thầy giao cho trông coi trại ruộng ở Thới Sơn.

3. Ông Đình Tây tên là Bùi văn Tây, được đức Phật Thầy giao cho dụng cụ để trừ khử cá sấu năm chèo.

4. Ông Đạo Xuyến tên Nguyễn văn Xuyến sanh năm1833, ông tịch ngaỳ mồng 4 tháng 8 năm 1914, hưởng thọ 82 tuổi.

5. Ông Đạo Lập dựng chùa Bồng Lai ở Bài bài thuộc làng Nhơn Hưng, quận Tịnh Biên tỉnh Châu đốc. Tên thật là Phạm thái Chung pháp danh là Sùng đức Võ tiên sanh hoặc Bồng Lai La Hồng tiên sanh.

6. Ông Đạo Sĩ (ông Đạo có tên là Sĩ)

7. Ông Đạo Thắng, tên thật là Nguyễn văn Thắng

8. Ông Đạo Chợ quê ở Chưn Đùn, cù lao Ông Chưởng, xã Long Kiến, vùng Hậu Giang.

9. Ông Đạo Đọt

10. Ông đạo Hiệu tức La Hồng tiên sinh được đức Phật Thầy phái đi với ông đạo Lập lấy một lá ếm của người Tàu ở tại Bài Bài. (*)